*
Đến giữa năm 1953, sau gần 8 năm tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược trở lại Đông Dương, dù đã huy động nhiều tiềm lực kinh tế, quân sự nhưng thực dân Pháp vẫn không thực hiện được mục đích đề ra mà ngược lại, phải chịu những thất bại nặng nề. Tháng 7/1953, tướng Nava - người mới được bổ nhiệm tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, đề ra kế hoạch quân sự mới (còn gọi Kế hoạch Nava), gồm hai bước:Bước một (Thu Đông năm 1953 và Xuân năm 1954): giữ thế phòng ngự chiến lược ở chiến trường miền Bắc, tránh giao chiến với lực lượng chủ lực đối phương; tiến công chiến lược ở chiến trường phía Nam, đánh chiếm các căn cứ kháng chiến của Việt Minh; tăng cường càn quét, bắt lính để mở rộng quân đội ngụy tay sai, tập trung xây dựng khối chủ lực tác chiến cơ động.Bước 2 (từ Thu Đông năm 1954): dồn toàn lực ra chiến trường miền Bắc, thực hiện các đòn tiến công chiến lược quy mô lớn, giành thắng lợi quyết định, tiêu diệt chủ lực đối phương, buộc chính phủ kháng chiến phải đầu hàng, hoặc chấp nhận kết thúc chiến tranh theo những điều kiện có lợi cho phía Pháp.Thực hiện kế hoạch quân sự mới đề ra, được đế quốc Mỹ ra sức giúp đỡ, thực dân Pháp mở nhiều cuộc hành quân đánh phá, càn quét bình định, ra sức bắt lính; đồng thời rút bớt nhiều đơn vị tinh nhuệ từ các chiến trường khác để tăng cường vào Đông Dương. Chỉ sau một thời gian ngắn, địch đã xây dựng được khối chủ lực mạnh, bao gồm 84 tiểu đoàn cơ động, trong đó tập trung 44 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ. Tự tin vào khối quân chủ lực hùng mạnh của mình, tướng Nava đã chuẩn bị tâm thế sẵn sàng “nghiền nát các đơn vị chủ lực đối phương ở bất cứ nơi nào”, từ đó nêu cao khẩu hiệu “luôn luôn chủ động”, “luôn luôn tiến công”.Về phía ta, cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp bàn, đánh giá âm mưu mới của Pháp - Mỹ về tăng cường lực lượng mở rộng chiến tranh xâm lược Đông Dương. Hội nghị nhận định: Nội dung cốt lõi của Kế hoạch Nava là tập trung xây dựng khối chủ lực mạnh vừa để đối phó với các cuộc tiến công của ta và xa hơn là mở những cuộc tiến công quy mô lớn nhằm tiêu diệt quân chủ lực ta. Yêu cầu bức thiết đặt ra lúc này là giữ vững quyền chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng, phá vỡ kế hoạch tập trung của chúng.Từ nhận định đó, Bộ Chính trị đề ra chủ trương: “Sử dụng một bộ phận chủ lực (để) mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó đẩy mạnh chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường địch hậu và tích cực chuẩn bị mọi sự cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân quân du kích ở các vùng tự do, sẵn sàng đối phó với địch để cho bộ đội chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ” (trích biên bản Hội nghị).

Bạn đang xem: Số đoàn viên tham gia chiến dịch điện biên phủ


*
Do lúc này ta chưa biết chi tiết kế hoạch và hành động cụ thể của địch, nên Bộ Chính trị đề ra phương châm chung cần quán triệt trong toàn bộ hoạt động tiến công của ta là: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt; đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, đánh tiêu diệt.Chấp hành chủ trương chiến lược đã đề ra, trong Đông Xuân năm 1953 - 1954, quân và dân Việt Nam phối hợp chặt chẽ cùng với quân dân hai nước bạn Lào và Campuchia mở liên tiếp 5 đòn tiến công chiến lược trên 5 hướng khác nhau khắp chiến trường Đông Dương, buộc địch phải điều lực lượng đối phó.Các đòn tiến công gồm: Đòn tiến công lên Tây Bắc, buộc địch phải đưa lực lượng lên xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đòn tiến công sang Trung Lào, buộc địch đưa lực lượng sang xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Sê Nô (tỉnh Savannakhet, Lào). Đòn tiến công sang Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia, ta giải phóng một vùng rộng lớn nối thông Trung - Hạ Lào với Đông Bắc Campuchia. Tuy địch không điều quân xây dựng tập đoàn cứ điểm, nhưng bị hao tổn nhiều về lực lượng. Đòn tiến công Tây Nguyên, buộc địch đưa lực lượng xây dựng tập đoàn cứ điểm An Khê và Pleiku. Đòn tiến công sang Thượng Lào, buộc địch đưa lực lượng xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Luang Prabang và Mường Sài.
Như vậy, đến tháng 2/1954, toàn bộ khối chủ lực cơ động của quân Pháp bao gồm 84 tiểu đoàn, từ chỗ tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, chỉ sau một thời gian ngắn, chính thức bị “xé nát thành 5 mảnh”, đứng chôn chân trên 5 khu vực mà hầu như không thể hỗ trợ được cho nhau, đó là: đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc, Trung Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào. Sức mạnh tập trung không còn, kế hoạch quân sự Nava cơ bản bị phá sản. Sau này, các nhà quân sự phương Tây bình luận: Khi tướng Nava còn chưa kịp “ra đòn” thì Bộ chỉ huy kháng chiến của Việt Minh, với tài dụng binh xuất sắc của tướng Giáp đã khéo điều các đơn vị tinh nhuệ của Pháp đến những nơi họ muốn. Kế hoạch Nava thất bại ngay từ buổi bình minh!Về phía ta, lần đầu tiên trong chiến tranh, ta mở các đòn tiến công chiến lược trên quy mô rất rộng lớn gần hết bán đảo Đông Dương, diễn ra vừa đồng thời, vừa kế tiếp, vừa xen kẽ và kết hợp chặt chẽ với nhau. Việc tổ chức thắng lợi cuộc tiến công chiến lược đó đánh dấu bước phát triển vượt bậc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Trung ương Đảng, tạo ra thế và lực mới cho sự nghiệp kháng chiến, trở thành tiền đề đi đến một chiến dịch quyết chiến chiến lược tại Điện Biên Phủ năm 1954.Dồn sức đánh thắng trận quyết chiến chiến lược
*
*
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã trở thành một trong những chiến công chói lọi, như một Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa của thế kỷ XX trong lịch sử dân tộc; là kết quả sự hội tụ của nhiều nhân tố, trong đó có bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

Điện Biên Phủ - vị trí chiến lược quan trọng

Điện Biên Phủ là một thung lũng lòng chảo rộng lớn ở phía Tây vùng núi Tây Bắc, có chiều dài khoảng 20 km, rộng từ 6-8 km; cách Hà Nội khoảng 200 km, cách Luang Prabang (Lào) khoảng 190km theo đường chim bay. Theo đánh giá của tướng H.Navarre và các nhà quân sự Pháp - Mỹ thì “Điện Biên Phủ là một vị trí chiến lược quan trọng đối với chiến trường Đông Dương và cả miền Đông Nam Á, nằm trên trục giao thông nối liền các miền biên giới của Lào, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar) và Trung Quốc”. "Điện Biên Phủ là một cánh đồng rộng lớn nhất, đông dân và giàu có nhất vùng Tây Bắc". Từ Điện Biên Phủ, quân Pháp có thể bảo vệ được Lào, rồi từ đó đánh chiếm lại các vùng đã mất ở Tây Bắc trong những năm 1952-1953 và tạo điều kiện thuận lợi để tiêu diệt các sư đoàn chủ lực của ta.

Về phía ta, việc quân Pháp nhảy dù tái chiếm Điện Biên Phủ không làm đảo lộn kế hoạch tác chiến chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, ngay cả trên hướng Tây Bắc. Trên các hướng đã được xác định, khối chủ lực vẫn mở các cuộc tiến công đúng như kế hoạch gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại và bị động đối phó. Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ quân sự và kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 diễn ra cùng thời điểm quân Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng, “địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là để che chở cho Lai Châu và Thượng Lào bị uy hiếp. Như vậy là bị động phân tán lực lượng để đối phó với ta. Vô luận rồi đây, địch tình thay đổi thế nào, địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ căn bản là có lợi cho ta”.

Các đòn tiến công chiến lược quan trọng của ta trong Đông Xuân 1953-1954 đã buộc khối cơ động của địch phải phân tán đối phó trên nhiều hướng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân Việt Nam thực hiện trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng

Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”, cả nước dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định tập trung 4 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000 quân. Các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng tiến công địch. Trên 260.000 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn, hướng về Điện Biên bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch... Đến đầu tháng 3/1954, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch đã hoàn thành.


Khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh

*

Máy bay B26 của Pháp tại mặt trận Điện Biên Phủ bị lực lượng pháo phòng không 37mm của quân ta bắn rơi. Ảnh: TTXVN

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã khẳng định đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ tự lực cánh sinh, đã phát huy cao độ truyền thống yêu nước, ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ đi vào lịch sử của dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã khẳng định sức mạnh to lớn của nhân dân Việt Nam. Có thể nói, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đã hoàn toàn bất ngờ trước sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, trước việc “Việt Minh” có đủ lương thực và vũ khí để chiến đấu liên tục trong suốt gần hai tháng trên địa bàn hiểm trở, xa hậu cứ trước việc xuất hiện của trọng pháo trên trận địa đỉnh núi…

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn Hội nghị cùng ký Hiệp định Geneva chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược (1945-1954) ở Đông Dương, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Hiệp định Geneva đã tạo được cục diện mới, tạo tiền đề và cơ sở pháp lý rất quan trọng để dân tộc ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).

Chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại năm 1954 để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Một trong những bài học sâu sắc, to lớn nhất, đó là: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, “cả nước đồng lòng, toàn dân chung sức”, “tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Trong ảnh: Đảng ta đã huy động được một lực lượng lớn dân công, đảm bảo hậu cần cho chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Cho đến nay, thế giới vẫn đặt câu hỏi vì sao một đất nước nhỏ bé và lạc hậu, vừa thoát ra khỏi ách thực dân gần 100 năm lại có thể đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ, tại sao Pháp lại thua. Ph.Leclerc, một Đại tướng giỏi của quân đội Pháp, cũng đã nói một cách cô đọng và rõ ràng bài học thất bại của Pháp rằng: “người ta không thể nào dùng sức mạnh để phá tan chủ nghĩa dân tộc Việt Nam”.

Xem thêm: Giải Sgk Ngữ Văn 6 Hay Nhất Kết Nối Tri Thức, Soạn Bài Tập Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 6

Mc.Namara - nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thừa nhận: “sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũi nhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của dân tộc”, “chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó…”.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự cộng hưởng của sức mạnh dân tộc và thời đại, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh Việt Nam, bản sắc văn hóa giữ nước Việt Nam mà nền tảng là lòng yêu nước; các nhân tố đó tiếp tục là sức mạnh bảo đảm cho sự thành công của công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.